TIEU DOAN 9 TQLC

 
Quảng Trịpercentage
Cửa Việtpercentage
Căn cứ hỏa lực TQLCpercentage

logo

| tìm kiếm | địa danh | trở lại |

Quá tŕnh hành quân

Là đơn vị cơ hữu của SD TQLC.

Thành lập 1970, nickname Mănh Hổ, trong chiến dịch Hạ Lào là đơn vị trừ bị thuộc quyền điều động của LD 369 TQLC đóng gần Khe Sanh (3/1971), trấn đóng căn cứ A2 phía nam cầu Hiền Lương (2/1972), lập tuyến pḥng thủ cầu Bến Đá, tuyến pḥng thủ Mỹ Chánh (4/1972), trấn đóng Quảng Trị (1972-1975), pḥng thủ tuyến Gia Đẳng 3, đông bắc Quảng Trị, cách Cửa Việt 9km (1/1973), tan hàng tại Đà Nẵng (29/3/1975).

Trong cuộc hành quân Lam Sơn 810 tháng 5/1971, TD 9 TQLC trực thuộc Lữ đoàn 369 TQLC, tăng phái cho SD 1 BB, được trao phó nhiệm vụ tái chiếm căn cứ động Cù Mông. Động Cù Mông là địa danh của một dẫy núi h́nh ba nhánh, bao quanh là núi rừng ngút ngàn. Đầu tháng 5/1971, một đại đội Công binh Mỹ dưới sự yểm trợ của Tiểu đoàn 1/54 BB đă thiết lập một căn cứ hỏa lực tại đỉnh núi. Sau khi bị một trung đoàn địch tấn công tràn ngập vị trí, họ đă phải rút lui. Ngày 10 tháng 5/1971, TD 9 TQLC được trực thăng vận tái chiếm động Cù Mông, giải toả áp lực địch và thu hồi được gần 100 thi hài quân bạn (Mỹ, Việt).

Sau trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa, từ 1972 đến 1975, các tiểu đoàn của SD TQLC có nhiệm vụ trấn giữ vùng giới tuyến Quảng Trị-Thừa Thiên.

Khoảng thời gian từ 10 đến 30 tháng 4/1972, Lữ đoàn 369 TQLC với các Tiểu đoàn 2, 5 và 9 hoạt động ở phía tây và tây bắc Mỹ Chánh trong một khu vực rộng chừng 200 cây số vuông, gồm các căn cứ Nancy, Barbara và động Ông Đô (cao điểm 375) nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng quân từ mặt tây nam Quảng Trị.

Căn cứ hỏa lực Barbara là trung tâm yểm trợ hỏa lực cho các cuộc hành quân ở khu vực rừng núi phía tây Mỹ Chánh. Giữa tháng 4/1972, hầu hết các đơn vị Pháo binh đă rời khỏi căn cứ này để di chuyển về phía đồng bằng lập thành căn cứ hỏa lực Nancy, cạnh Bộ Chỉ huy LD 369 TQLC, chừng 1 cây số về hướng nam sông Mỹ Chánh. Con đường chiến lược quan trọng dài chừng 10km nối liền từ Nancy đến Barbara đuợc TD 2 và 9 TQLC bảo vệ. Trách nhiệm của TD 9 TQLC là những cao điểm chiến thuật nằm dọc hai bên trục lộ từ Nancy đến ngọn đồi 108 và của TD 2 TQLC từ ngọn đồi 108 đến Barbara. Thế nên địch quyết tâm tiêu diệt các đơn vị của LD 369 TQLC bằng cách cho TRD 24 CSBV tấn công chia cắt TD 2 TQLC, đồng thời cho TRD 9 CSBV tấn công mănh liệt vào vị trí của TD 9 TQLC. Địch quân cố đẩy lùi hai Tiểu đoàn TQLC này về phía quốc lộ 1 để chiếm lấy các cao điểm. Đoạn trục lộ giữa đồi 108 và Nancy đă không c̣n an toàn nữa. Trên ṿm trời Barbara, suốt ngày đêm bom đạn của hai phía đổ xuống khắp núi rừng.

Tháng 4/1972, dưới áp lực mạnh mẽ của CSBV, SD 3 BB đă lùi dần về phía nam. LD 147 TQLC đang đóng ở Mai Lộc cũng bị áp lực nặng nề của địch, đêm ngày bị pháo kích dữ dội. T́nh h́nh quá xấu, SD TQLC quyết định tái phối trí lực lượng lập tuyến pḥng thủ mới trên sông Mỹ Chánh. TD 2 TQLC được lệnh Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 369 TQLC rời khỏi căn cứ Barbara. Áp lực pḥng tuyến ngăn chặn các đơn vị của SD 304 Sao Vàng CSBV từ phía tây đè nặng lên một ḿnh TD 9 TQLC.

Tối ngày 26 tháng 4/1972, khi phát hiện những cánh quân CSBV di chuyển từ tây sang đông, từ bắc xuống nam về hướng thị xă Quảng Trị, Không quân VNCH và Hoa Kỳ cùng Pháo binh TQLC bắt đầu khai hỏa. 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4/1972, Cộng quân khởi đầu tấn công vào vị trí trọng điểm của Đại đội 3/9 TQLC pḥng ngự. Cuộc chiến kéo dài ba ngày liên tục, nhờ ở cao điểm và liên hoàn pḥng ngự yểm trợ nhau chặt chẻ, Đại đội vẫn giữ vững vị trí trong khi địch quân bị đẩy lui với thương vong quân số quá lớn. Nhưng trên ngọn 108 của TD 2 TQLC, ở phía tây, đă bỏ ngỏ, khiến t́nh thế trở nên nguy hiểm. Sau đó địch tấn công ồ ạt các vị trí của DD 3/9 TQLC khiến các tuyến pḥng thủ lần lượt vỡ. DD 3/9 TQLC được lệnh rút về phía vị trí Tiểu đoàn để phi cơ tự do oanh kích. Những chiếc C-47 nhả từng cột lửa từ đại liên 8 ṇng cũng như đạn Pháo binh thi nhau dập xuống đỉnh đồi. Những toán quân CSBV không kịp tẩu thoát đă bị sát hại, hàng trăm xác bỏ lại trên các sườn núi, trong đó có những người chiến binh của Đại đội 3 bị trọng thương không di chuyển được.
Sau 5 ngày chiến đấu hào hùng, DD 3/9 TQLC đă hoàn thành nhiệm vụ xứng đáng đủ thời gian cho SD TQLC thành lập chiến tuyến bên ḍng sông Mỹ Chánh.

Tháng 3/1975, Tiểu đoàn lúc đó trực thuộc Lữ đoàn 258 TQLC đóng tại Gia Đẳng, Quảng Trị. Bộ Chỉ huy Lữ đoàn đóng tại Mỹ Thủy. Sau khi, Ban Mê Thuột bị rút bỏ, ngày 16 tháng 3/1975, Tiểu đoàn di chuyển theo Lữ đoàn 369 TQLC rời Quảng Trị về Đại Lộc, Quảng Nam, để thay thế LD 3 ND. Trận đánh oanh liệt cuối cùng của Tiểu đoàn khi đơn vị được lệnh triệt thoái diễn ra tại Chủng viện Sơn Trà trên băi biển Mỹ Khê, quận Sơn Trà, Đà Nẵng, ngày 29 tháng 3/1975.


Đơn vị trực thuộc
DD 1/9 TQLC
DD 2/9 TQLC
DD 3/9 TQLC
DD 4/9 TQLC
. . .
Chỉ huy
1970Thiếu táNguyễn Kim Để
8/1973Trung táHuỳnh Văn Lượm
10/1974Thiếu táLâm Tài Thạnh
Chiến trường tham dự
● Căn cứ hỏa lực TQLC (3/1972)
● Quảng Trị (4/1972)
● Cửa Việt (1/1973)

visitor commentsƯ kiến đóng góp (0)

Tiểu sử Đơn vị trưởng
● Trung tá Nguyễn Kim Để
Nickname Đà Lạt, Đại úy Tiểu đoàn phó TD 2 TQLC (1970).
● Trung tá Huỳnh Văn Lượm
Nickname Long Lễ, Tham mưu trưởng kiêm Lữ đoàn phó LD 258 TQLC (3/1975), bị CSBV sát hại trong tù cải tạo Z30A Xuân Lộc.
● Thiếu tá Lâm Tài Thạnh
Tiểu đoàn phó TD 7 TQLC (2/1973), Bị bắt ngày 29 tháng 3/1975, sau đó vượt thoát được về Vũng Tàu.

more

| tìm kiếm | địa danh | trở lại |